Folklo văn học dân gian. Tục ngữ.2432026
Lịch sử vấn đề Thiển nghĩ có thể chia văn học thành nhiều dòng chảy khác nhau -in ra giấy - truyền khẩu -lan truyền trên mạng Mỗi dòng chảy có vị trí độc lập ; Mỗi cá nhân có kho tàng ngôn ngữ riêng , theo lứa tuổi , nghề nghiệp , theo địa văn hóa. Trong khuôn khổ bài viết này , mình chỉ đề cấp đến Tục ngữ , loại văn học truyền khẩu , truyền miệng. Hàng ngày trong đối thoại hai người , thường xen kẽ chèn vào các câu Tục ngữ , Và do đó làm cho câu chuyện thêm sâu sắc , xúc tích , ngắn gọn ; Giới hạn mình chỉ sơ khởi so sánh những câu tục ngữ , nó na ná nghĩa như nhau ( nghĩa đen hoặc bóng ). Quá trình mình chuyển ngữ Thơ Đức sang tiếng Việt , trong giới hạn mật độ chữ hữu hạn , mình cố gắng học hỏi cách nói của Tục ngữ Đức & Việt , sao bài thơ sát ý , giải mã được thông điệp mà tác giả gửi gấm & học theo cách gieo vần & nhịp điệu , hình ảnh của bài thơ đó. 2. Tục ngữ là gì ? 2.1 Cách hiểu của người Việt Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền đạt, thường gieo vần lưng. Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền đạt, thường gieo vần lưng. TS. Nguyễn Văn Hoa Nội dung tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian của dân tộc. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài. Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ... Đa số tục ngữ đều có vần, gồm hai loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca... Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán. Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả Thành ngữ (tiếng Latinh: idioma) là những câu nói không nhằm mục đích để hiểu theo nghĩa thông thường, đồng thời ý nghĩa của một thành ngữ thường rất khác với ý nghĩa của từng chữ một trong câu. Hiện có hàng ngàn các thành ngữ khác nhau và chúng thường xuyên được tạo ra ở hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới. Theo ước tính có ít nhất 25.000 thành ngữ trong ngôn ngữ tiếng Anh. Thành ngữ là một phần câu có sẵn,nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng,nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn.Về hình thức ngữ pháp,mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ,chưa phải một câu hoàn chỉnh. 2.2 Cách hiểu của dân gian Đức 1. "Một câu nói là một câu ngắn dựa trên kinh nghiệm lâu dài." (Miguel de Cervantes, nhà văn Tây Ban Nha) 2. "Một câu tục ngữ là một cụm từ nổi tiếng, được đặt ra chắc chắn, thể hiện một quy tắc của cuộc sống hoặc trí tuệ trong một hình thức ngắn gọn, súc tích." (Wolfgang Mieder, nhà ngôn ngữ học và học giả văn học) 3. "Câu tục ngữ: sự khôn ngoan được hình thành một cách khéo léo và khái quát hóa những kinh nghiệm xã hội nhất định ở mức độ cao. Tác giả của nó là không rõ; thường có chất lượng hình ảnh phổ biến. " (Từ vựng của thuật ngữ ngôn ngữ. Leipzig: VEB Bibliographisches Institut 1985. p. 227.) “Tục ngữ thường là những câu nói phổ biến ngắn đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Họ thường mô tả một hành vi hoặc kinh nghiệm sống nhất định được thiết lập vững chắc trong từ điển đồng nghĩa, tức là từ vựng của một ngôn ngữ. . Tục ngữ có nhiều độ tuổi khác nhau và đến từ các thời đại khác nhau của thời đại chúng ta”. Như vâỵ qua hai cách hiểu trên , chúng ta có thể rút ra vài nhận xét ban đầu : - Không có tranh chấp quyền tác giả ; Không xác định được chính xác tác giả ban đầu của câu tục ngữ , vì truyền khẩu , từ người này sang người kia , từ vùng nọ sang vùng kia , nay hội nhập , hôn nhân đa sắc tộc , nên có sự giao thoa văn hóa , nên một câu tục ngữ có thể nhiều dân tộc cùng dùng , ví dụ “ Có nhiều con đường đến thành Rôm”, - Tục ngữ trôi nổi trước , sau đó mới được sưu tầm , nghiên cứu , phân tích , truyền dậy ; Nó khác thơ , tiểu thuyết phải in ấn ra giấy hoặc lan truyền trên mạng ; Mảnh đất tồn tại của tục ngữ là trong mọi gia đình , các chợ truyền thống ; nơi lao đông , sinh hoạt công cộng; - Tục ngữ được người già từng trải dùng nhiều hơn người trẻ ;Vì tục ngữ là sự đúc kết kinh nghiệm lao động , sinh hoạt , đối nhân xử thế & đúc kết trí tuệ dân gian ; chỉ sau khi đã va vấp , trưởng thành thì mới thấm thía hết lời dậy truyền khẩu của người đi trước , - Tục ngữ được các thế hệ sau bồ sung càng phong phú ; Thời phong kiến có câu : “ Quan xa , nha gần “ , còn ngày nay vùng miệt vườn xa xôi , vùng sâu vùng xa thủ đô thì có câu “ Đảng xa , ma gần ( ma ám chỉ cán bộ xóm ấp tham nhũng , biến chất ) “; - Tục ngữ cần có sự thấu hiểu của hai người đối thoại , nếu một người không hiểu nghĩa đen và nghĩa bóng của câu tục ngữ đó ; thì hiệu quả bằng số không , Do vậy đối thoại dùng chèn tục ngữ phải đúng lúc , đúng chỗ , đúng người ;đúng nghề nghiệp , trình độ , quan hệ ; - Từ bé mình đã thuốc các câu, ví dụ - Cá không ăn muối các ươn - Gần mực thì đen gần đèn thì sáng - … 3. Một số ví dụ Tục ngữ Đức Việt gần nghĩa nhau - Xin phép chọn những câu tương tự giữa hai dòng tục ngữ Đức Việt - - 3.1"Blut ist dicker als Wasser." Máu thì đặc hơn nước lã ; - Còn Việt có câu : Một giọt máu đào hơn ao nước lã ; - 3.2 Man glaubt einem Auge mehr als zwei Ohren." Một mắt hơn hai tai - Việt : Trăm nghe không bằng một thấy • 3.3 • "Nachts sind alle Katzen grau." : Ban đêm mèo nào cũng màu xám • Việt : Tắt đèn nhà ngói như nhà tranh • 3.4"Jeder Topf hat einen Deckel." : Mỗi nồi có một vung • Việt :Nồi nào vung ấy • 3.5"Kein Rauch ohne Feuer." : không khói không lửa • Việt: Không có lửa sao có khói • 3.6"Lachen ist die beste Medizin.": Nụ cười là liều thuốc tốt nhất • Việt :Một nụ cười bằng 10 thang thuốc • 3.7"Geiz ist die größte Armut.":Keo kiệt là sự nghèo khổ nhất • Việt: Keo kiệt rán sành ra mỡ ; Vắt cổ chày ra nước , Chin xu đổi lấy một hào , Ăn sợi tóc ỉa sợi tơ; Đo nước mắm đếm củ hành ; • 3.8 • "Das Ei will klüger sein als die Henne.": Trứng muốn khôn hơn gà mẹ • Việt : Trứng không hơn vịt • Nhận xét : Ông nói gà bà nói vịt • 3.9"Hast du kein Pferd, so nimm den Esel.": Không ngựa thì cưỡi lừa • Việt : Không trâu bắt bò đi cầy • 3.10 • "Ist die Katze aus dem Haus, tanzen die Mäuse auf dem Tisch.": Mèo ra khỏi nhà , chuột leo lên bàn ăn • Việt : Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm; • 3. 11 • "Den Wald vor lauter Bäumen nicht sehen.": Nhìn cây không thấy rừng • Việt :Thày bói sờ voi • 3.12 • "Zu viele Köche verderben den Brei.": Nhiều đầu bếp nồi canh hư • Việt : Nhiều thày thối ma • 3.13" • Wie du mir, so ich dir." : Anh đối với tôi thế nào , tôi đối xử lại với anh như vậy • Việt : ăn miếng trả miếng • 3.14 • • "Pech im Spiel, Glück in der Liebe." Không may chơi bạc, may mắn trong tình yêu • "Pech in der Liebe, Glück im Spiel." May mắn tình yêu ,Không may đánh bạc; • Việt : Đen bạc đỏ tình • Đỏ tình , đen bạc • 3.15 • "Alte Liebe rostet nicht." : Tình cũ không han rỉ • Việt : Tình cũ không rủ cũng đến 4.Tìm hiểu nghĩa của một số câu tục ngữ phổ biến của Đức Tin thái quá
Lịch sử vấn đề Thiển nghĩ có thể chia văn học thành nhiều dòng chảy khác nhau -in ra giấy - truyền khẩu -lan truyền trên mạng Mỗi dòng chảy có vị trí độc lập ; Mỗi cá nhân có kho tàng ngôn ngữ riêng , theo lứa tuổi , nghề nghiệp , theo địa văn hóa. Trong khuôn khổ bài viết này , mình chỉ đề cấp đến Tục ngữ , loại văn học truyền khẩu , truyền miệng. Hàng ngày trong đối thoại hai người , thường xen kẽ chèn vào các câu Tục ngữ , Và do đó làm cho câu chuyện thêm sâu sắc , xúc tích , ngắn gọn ; Giới hạn mình chỉ sơ khởi so sánh những câu tục ngữ , nó na ná nghĩa như nhau ( nghĩa đen hoặc bóng ). Quá trình mình chuyển ngữ Thơ Đức sang tiếng Việt , trong giới hạn mật độ chữ hữu hạn , mình cố gắng học hỏi cách nói của Tục ngữ Đức & Việt , sao bài thơ sát ý , giải mã được thông điệp mà tác giả gửi gấm & học theo cách gieo vần & nhịp điệu , hình ảnh của bài thơ đó. 2. Tục ngữ là gì
Trả lờiXóa